+ Trả lời bài viết
Trang 2 của 4 Đầu tiênĐầu tiên 1 2 3 4 CuốiCuối
Kết quả 16 tới 30 của 50

Chủ đề: Có một saigon xưa trong ký ức

  1. #16
    Tham gia
    Jan 2012
    Địa điểm
    SAIGON
    Bài viết
    5,015
    Thanks
    4,999
    Thanked 3,030 Times in 662 Posts

    Mặc định

    Trích Được post bởi Francis Xem bài viết
    Em cũng thấy vậy, anh Rhinovn ạ ! Không ai dùng từ là "tiểu vương cung thánh đường" cả !!!
    Trích Được post bởi D9s Xem bài viết
    Em là dân ngoại đạo nên mù tịt, chờ bác chủ trả lời.
    Trích Được post bởi An Nam Xem bài viết
    Em có một số thắc mắc, xin bác Vinh kiểm tra giúp xem...

    1/ Trích dẫn "Ngày 5 tháng 12 năm 1959, Tòa Thánh đã cho phép làm lễ "xức dầu", tôn phong Nhà thờ Chính tòa Sài Gòn lên hàng tiểu Vương cung thánh đường (basilique)".

    Theo chỗ em được biết, chưa bao giờ nhà thờ Đức Bà được xếp vào hàng tiểu Vương Cung Thánh Đường. Bản dịch từ Google bao giờ cũng có sai sót ạ !

    2/ Lễ "xức dầu"...Đây là một nghi thức dành cho các bệnh nhân, những người đang hấp hối...Sao lại có thể tiến hành nghi thức này cho một giáo đường mới xây dựng ?

    3/ Trích dẫn "Ngoài mục tiêu có chỗ thờ phụng, hành lễ cho tín đồ, việc xây dựng nhà thờ lớn cũng nằm trong mục đích phô trương đạo Công giáo và sự vĩ đại của nền văn minh nước Pháp trước người dân thuộc địa."

    Cái đoạn này này em nghe.....sao sao ấy ?
    các bác thắc mắc rất đúng....
    Em cũng là người ngoại đạo nên những danh từ này em cũng khg rõ, chỉ duy nhất một điều là cái từ "Tiểu Vương Cung thánh đường" thì em thấy cũng thật chói tai :) còn các từ ngữ mà bác An Nam nêu em cũng thấy sao sao ấy hì hì
    Nhưng vì đây là tư liệu trích dẫn nên em giữ nguyên bản, khg dám sửa đổi !

    BTW em cũng xin cám ơn các bác đã đọc và ủng hộ em.:)
    Gia tài : NIKON D70S + 18-55 VR + 55-200 VR
    Phone : 0993.062.067

  2. Có 5 người cảm ơn VINHSAIGON cho bài viết này:


  3. #17
    Tham gia
    Jan 2012
    Địa điểm
    SAIGON
    Bài viết
    5,015
    Thanks
    4,999
    Thanked 3,030 Times in 662 Posts

    Mặc định

    LĂNG ÔNG (BÀ CHIỂU)

    LĂNG TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT
    Lăng Ông Bà Chiểu, nói vắn tắt là Lăng Ông, có tên chữ là Thượng Công miếu. Đây là khu lăng mộ của Tả quân [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] ([Chỉ thành viên mới thấy được link. ]-[Chỉ thành viên mới thấy được link. ]), tọa lạc tại số 1 đường [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], phường 1, [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], [Chỉ thành viên mới thấy được link. ]


    Cổng Tam quan lăng có ba chữ THƯỢNG CÔNG MIẾU

    Lăng Ông Bà Chiểu rộng 18.500 [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] trên một gò đất cao, nằm giữa bốn con đường: [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], [Chỉ thành viên mới thấy được link. ][Chỉ thành viên mới thấy được link. ] .

    Lăng nằm kế bên khu [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] nên mỗi khi nhắc đến tên chợ này là nghĩ ngay đến lăng Ông. Rất nhiều người nơi khác thường nhầm rằng đây là lăng thờ ông và bà tên Chiểu. Thật ra không phải như vậy, đây là lăng thờ ông bà [Chỉ thành viên mới thấy được link. ]. Và do lệ kiêng cử tên, không biết từ lúc nào, người dân đã ghép hai từ “lăng Ông” với hai từ “Bà Chiểu” để chỉ khu lăng của Tả Quân.

    Theo nhà văn [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], tên Bà Chiểu là tên vùng đất, chỉ mới xuất hiện thời vua [Chỉ thành viên mới thấy được link. ]. Chiểu có nghĩa là ao nước thiên nhiên, Bà Chiểu là nữ thần được thờ bên ao thiên nhiên. Ở [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] cũng có vùng đất tên là Linh Chiểu

    Trong công trình kiến trúc của lăng, được xây dựng sớm nhất là phần mộ .

    Năm [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] sau [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], Lê Văn Duyệt bị lên án và buộc tội đã gián tiếp gây nên biến loạn, vua [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] đã ra chỉ dụ san bằng mộ, xiềng xích sắt, trên dựng bia đá có khắc tám chữ Quyền yêm Lê Văn duyệt phục pháp xử (chỗ tên hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội).

    Đến năm [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] ([Chỉ thành viên mới thấy được link. ]), vua [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] lên ngôi cho phá bỏ xiềng xích và đắp lại mộ. Năm đầu đời [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] ([Chỉ thành viên mới thấy được link. ]), Đông Các đại học sĩ [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] dâng sớ xin phục hồi quan tước, gia ơn cho con cháu các công thần, trong đó có Lê Văn Duyệt. Nhà vua xem sớ cảm động, truy phong cho cả ba ông và ban phẩm hàm cho con cháu họ. Lại cho đắp phần mộ Lê Văn Duyệt ở [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] cao rộng thêm và cho sửa sang miếu thờ. Theo nhà văn [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], thì sau đó dân làng Long Hưng đem trình quan sở tại một người cháu nội của [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] (Phong là em ruột Tả quân) tên Lê Văn Thi, bấy lâu sợ tội với triều đình nên mãi trốn tránh. Sau đó, ông Thi được phép đến Bà Chiễu, lo việc chăm sóc Lăng Ông. Ngày nay ở trong miếu vẫn còn thờ ông Thi làm Tiền hiền .

    Và từ khi Hội Thượng Công Quý Tế được thành lập vào năm [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], việc cúng tế được tổ chức đều đặn hàng năm và việc trùng tu cũng được tiến hành nhiều lần. Ngày 6 [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] năm [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], toàn bộ khu lăng được Bộ Văn hóa công nhận là di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia.


    Sơ đồ vị trí Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt

    Chung quanh khu lăng có bức tường bao bọc dài 500[Chỉ thành viên mới thấy được link. ], cao 1,2 [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] được trổ bốn cổng ra vào theo bốn hướng, được xây dựng vào năm [Chỉ thành viên mới thấy được link. ]. Năm sau, cổng Tam quan cũng được xây. Cổng có hàng đại tự nổi bằng [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] Thượng Công Miếu, được đặt ở [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], mở ra đường [Chỉ thành viên mới thấy được link. ]. Trước năm [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], cổng này đã từng được chọn là biểu tượng của vùng Sài Gòn-Gia Định xưa.

    Khu lăng được xây dựng trên một trục đường chính. Từ cổng Tam quan ở phía nam vào qua một khu vườn cảnh là:
    1. Nhà bia nơi đặt bia đá ghi công đức Tả quân
    2. Mộ Tả quân và vợ, có bình phong và tường hoa bao quanh
    3. Miếu thờ
    Chỉnh sửa lần cuối bởi VINHSAIGON; 18/10/12 at 07:09 AM.
    Gia tài : NIKON D70S + 18-55 VR + 55-200 VR
    Phone : 0993.062.067

  4. Có 7 người cảm ơn VINHSAIGON cho bài viết này:


  5. #18
    Tham gia
    Jan 2012
    Địa điểm
    SAIGON
    Bài viết
    5,015
    Thanks
    4,999
    Thanked 3,030 Times in 662 Posts

    Mặc định


    Một con tem in hình Lăng Ông

    NHÀ BIA
    Nhà bia được xây dựng như một ngôi điện nhỏ, tường [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], mái lợp [Chỉ thành viên mới thấy được link. ]. Bên trong có tấm bia đá khắc văn bia [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] đề "Lê công miếu bi" (Bia dựng tại miếu thờ Lê công) do Kinh lược sứ [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] viết năm [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] ([Chỉ thành viên mới thấy được link. ]). Nội dung văn bia ca tụng công đức Lê Văn Duyệt đối với triều đình và nhân dân.

    Lăng mộ


    Toàn thể khu [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] đều được xây bằng một loại vữa hợp chất.
    Phần mộ gồm hai ngôi mộ song táng: Tả quân và vợ là bà Đỗ Thị Phận. Hai ngôi mộ đặt song song và được cấu tạo giống nhau, có hình dạng như nửa quả [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] xẻ theo chiều dọc, úp trên bệ lớn [Chỉ thành viên mới thấy được link. ]. Trước mộ có một khoảnh sân nhỏ để làm lễ. Từ nơi nhà bia nhìn vào, mộ Lê Văn Duyệt phía bên phải. Bao quanh mộ là một bức tường bằng đá ong dày hình chữ nhật, thông ra tận sân đốt [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] đèn.
    Ngoài ra, ở đây còn hai phần mộ nhỏ của hai cô hầu .
    Miếu thờ

    Cách khu lăng mộ một khoảng sân rộng đến khu vực "Thượng công linh miếu", nơi diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân trong việc thờ cúng Lê Văn Duyệt. Bố cục của miếu bao gồm tiền điện, trung điện và chính điện. Mỗi gian điện thờ cách nhau bằng một khoảnh sân lộ thiên, gọi là sân thiên tỉnh (giếng trời). Đối xứng hai bên trục nhà chính là hai dãy Đông lang và Tây lang.
    Công trình mang dấu ấn của lối kiến trúc miếu thờ [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], với những mái "trùng thiềm điệp ốc" và kỹ thuật kết nối khung nhà bằng các lỗ mộng. Ngoài ra, nhờ kỹ thuật chạm khắc [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], chạm khắc [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], khảm sành [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] mà nơi thờ cúng này còn giữ được vẻ đẹp cổ kính cho đến ngày nay.
    Thờ cúng

    [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] [Chỉ thành viên mới thấy được link. ]
    Mộ Tả quân Lê Văn Duyệt (bên phải ảnh) và vợ


    Nơi chính điện có bức tượng bằng đồng của Tả quân Lê Văn Duyệt. Tượng được đúc bằng đồng nguyên chất, cao 2,65 [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], nặng 3 [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] do nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng thực hiện. Đây là ý tưởng của tạp chí Xưa & nayHội Khoa học lịch sử Việt Nam trong chương trình Đúc tượng đồng cho lăng Ông. Nơi trung điện, thờ Tả quân Lê Văn Duyệt (giữa), Thiếu phó [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] (phải), Kinh lược [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] (trái).
    Hàng năm, tại lăng đều có tổ chức lễ giỗ Lê Văn Duyệt long trọng, vào các ngày 29 và 30 [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] và mồng 1 [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] .
    Khi ông mất, dân gian xem ông như một vị thần, vì vậy việc thờ cúng và tế lễ ông tại lăng mang nghi thức thờ thần và tế thần. Nói rõ hơn, lễ hội lăng Ông Bà Chiểu không phải là lễ tưởng niệm anh hùng dân tộc như [Chỉ thành viên mới thấy được link. ], [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] hay [Chỉ thành viên mới thấy được link. ]... mà là lễ hội mang tính dân gian như lễ Bà Chúa Xứ (xem [Chỉ thành viên mới thấy được link. ]) hoặc vía Ðiện Bà ở Tây Ninh (xem [Chỉ thành viên mới thấy được link. ]).
    [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] [Chỉ thành viên mới thấy được link. ]
    Nhà bia (trán cửa ghi bốn chữ "Lê Công Bi Đình")


    Số người dự hội có đến hàng chục vạn, không chỉ người địa phương mà cả khách tỉnh xa cũng về dự hội. Ðáng chú ý trong số khách đi lễ số lượng [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] chiếm khoảng phân nửa. Bởi họ đến dâng hương để tạ ơn một vị "phúc thần", vì lúc sinh thời khi làm Tổng trấn Gia Ðịnh, ông đã có những chính sách, chủ chương nâng đỡ, tạo điều kiện cho cộng đồng [Chỉ thành viên mới thấy được link. ] phát triển ngành nghề, an cư lạc nghiệp trên quê hương thứ hai của họ .
    Ngoài Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Phan Thanh Giản, trong đền còn thờ vợ ông, các Tiền hiền, Hậu hiền, các "Anh hùng liệt sĩ vị quốc vong thân" và hội viên quá vãng (những người xây dựng, quản lý, và hội viên Hội Thượng Công Quý Tế đã qua đời).


    Nguồn: Wikipedia
    Gia tài : NIKON D70S + 18-55 VR + 55-200 VR
    Phone : 0993.062.067

  6. Có 8 người cảm ơn VINHSAIGON cho bài viết này:


  7. #19
    Tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    4,333
    Thanks
    5,525
    Thanked 6,705 Times in 1,102 Posts

    Mặc định

    Em gửi bác Vinhsaigon tiền nhuận bút....hehehe !



    Hình Tả Quân Lê Văn Duyệt đã được in trong tờ giấy bạc 100 đồng của chính quyền thời Việt Nam Cộng Hòa.

  8. Có 8 người cảm ơn Francis cho bài viết này:


  9. #20
    Tham gia
    Jan 2012
    Địa điểm
    SAIGON
    Bài viết
    5,015
    Thanks
    4,999
    Thanked 3,030 Times in 662 Posts

    Mặc định

    Còn mặt sau nữa, up luôn đi bác Francis :)
    Gia tài : NIKON D70S + 18-55 VR + 55-200 VR
    Phone : 0993.062.067

  10. Có 4 người cảm ơn VINHSAIGON cho bài viết này:


  11. #21
    Tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    4,333
    Thanks
    5,525
    Thanked 6,705 Times in 1,102 Posts

    Mặc định

    Trích Được post bởi VINHSAIGON Xem bài viết
    Còn mặt sau nữa, up luôn đi bác Francis :)
    Dạ, em xin kính anh ạ...


  12. Có 6 người cảm ơn Francis cho bài viết này:


  13. #22
    Tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    4,333
    Thanks
    5,525
    Thanked 6,705 Times in 1,102 Posts

    Mặc định

    Em trả nhuận bút cho anh Vinhsaigon rồi đấy nhé ! Còn đây là bonus của tòa soạn "Photolangthang" dành cho anh.....


  14. Có 6 người cảm ơn Francis cho bài viết này:


  15. #23
    Tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    9,544
    Thanks
    9,531
    Thanked 15,836 Times in 3,317 Posts

    Mặc định

    Cám ơn bác Vinh SG về bài viết.
    Em xin bổ xung:

    Theo một số thông tin của người dân Bà Chiểu: Trong khu mộ chính ở giữa Lăng là mộ Tả quân và chánh thất (bà lớn) và còn có hai khu mộ cổ ở hai bên lăng là của hai bà thứ (vợ nhỏ): một ngôi mộ nằm trong khu chợ Bà Chiểu bên kia đường Trịnh Hoài Đức; một ngôi mộ nằm trong sân trường TH Trương Định bên kia đường Đinh Tiên Hoàng (ngày xưa là trường Nam Tỉnh Lỵ). Hai khu mộ này bị bỏ quên và không được chăm sóc.
    one world, one love, one heart...and lang thang

  16. Có 5 người cảm ơn Rhinovn cho bài viết này:


  17. #24
    Tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    9,544
    Thanks
    9,531
    Thanked 15,836 Times in 3,317 Posts

    Mặc định

    Lăng Võ Di Nguy - Phú Nhuận

    Khu vực gò đất cao từ Bà Chiểu tới Phú Nhuận là nơi có nhiều lăng mộ của các công thần thời Trung Hưng nhà Nguyễn, từ Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt, Phan Tấn Huỳnh, Phó Tổng trấn Trương Tấn Bửu tới các vị tướng như Võ Tánh, Võ Di Nguy; những người này tuy không sinh ra ở Gia Định nhưng sự nghiệp lại gắn liền với vùng đất này.
    one world, one love, one heart...and lang thang

  18. Có 6 người cảm ơn Rhinovn cho bài viết này:


  19. #25
    Tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    9,544
    Thanks
    9,531
    Thanked 15,836 Times in 3,317 Posts

    Mặc định



    Võ (Vũ) Di Nguy theo sử sách nhà Nguyễn thì ông là người huyện Phú Vang (Vinh), phủ Thừa Thiên, ông có công theo Nguyễn Ánh đi Vọng Các (Băng Cốc – Thái Lan ngày nay) – được xếp vào “Bậc nhất Vọng Các công thần”, giỏi thủy chiến, từng làm Cai cơ, quản thuyền Nội Thủy, Trung Thủy, có công rất lớn trong việc xây dựng thủy quân Nguyễn Ánh trong cuộc chiến tranh với Tây Sơn ở Gia Định (1790 – 1801). Ông mất năm 1801 trong trận đánh tại cửa biển Thị Nại, Quy Nhơn khi cùng Lê Văn Duyệt đốc chiến. Thi hài ông được đưa về Gia Định chôn cất và thờ ở đền Hiển Trung. Năm 1807 được Gia Long tặng hàm Thiếu Bảo và được thờ ở miếu Trung Hưng công thần tại Huế, đầu đời vua Minh Mạng được tặng hàm Thái Bảo, năm 1831 được vua Minh Mạng truy phong Bình Giang Quận công.
    one world, one love, one heart...and lang thang

  20. Có 6 người cảm ơn Rhinovn cho bài viết này:


  21. #26
    Tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    9,544
    Thanks
    9,531
    Thanked 15,836 Times in 3,317 Posts

    Mặc định



    Lăng Võ Di Nguy với kiểu kiến trúc chỉ dành cho bậc đại công thần được chia làm hai khu: khu đền thờ phía trước và khu mộ phía sau. Ngôi mộ được xây bằng hợp chất cổ và được coi là tiêu biểu cho nghệ thuật xây cất lăng mộ dành cho các công thần ở Nam bộ. Với kiến trúc gồm bình phong trước, bình phong sau, vòng tường bao xung quanh cùng các trụ cột là những thành phần che chắn, bảo vệ cho phần mộ ở giữa. Mộ được xây dựng có dạng hình chữ nhật vuông xung quanh khắc các đường trang trí và hình tượng “dây lá hóa rồng” đang bay lượn. Toàn bộ khu mộ được đắp nổi nhiều hình tượng và trang trí nhiều mô típ hoa văn độc đáo, sống động: búp sen, kỳ lân, rồng, hổ, rái cá; tùng lộc, lộc bình, hoa điểu, hoa cúc dây… cùng nhiều bài thơ ghi công đức của ông và phu nhân.
    Đền thờ có từ khi xây cất xong khu mộ, kiến trúc hiện nay của khu đền thờ là kiến trúc được xây dựng lại trong đợt trùng tu vào năm 1972; với kiến trúc chính điện là ngôi nhà tứ trụ truyền thống Nam bộ cùng hai dãy nhà phía Đông và phía Tây hai bên. Bên trong, tại Chính điện có bàn thờ Hội đồng ở giữa, phía trong là các án thờ Võ Di Nguy và người cháu ruột là Võ Di Thái được phong tước Bình Giang Bá, riêng án thờ Võ Di Nguy có bài vị khắc chữ Thần thếp vàng. Trong chính điện còn treo các bức hoành phi, liễn đối bằng chữ Nho thể hiện công trang của Võ Di Nguy.
    one world, one love, one heart...and lang thang

  22. Có 7 người cảm ơn Rhinovn cho bài viết này:


  23. #27
    Tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    9,544
    Thanks
    9,531
    Thanked 15,836 Times in 3,317 Posts

    Mặc định



    Lăng Võ Di Nguy với kiểu kiến trúc chỉ dành cho bậc đại công thần được chia làm hai khu: khu đền thờ phía trước và khu mộ phía sau. Ngôi mộ được xây bằng hợp chất cổ và được coi là tiêu biểu cho nghệ thuật xây cất lăng mộ dành cho các công thần ở Nam bộ. Với kiến trúc gồm bình phong trước, bình phong sau, vòng tường bao xung quanh cùng các trụ cột là những thành phần che chắn, bảo vệ cho phần mộ ở giữa. Mộ được xây dựng có dạng hình chữ nhật vuông xung quanh khắc các đường trang trí và hình tượng “dây lá hóa rồng” đang bay lượn. Toàn bộ khu mộ được đắp nổi nhiều hình tượng và trang trí nhiều mô típ hoa văn độc đáo, sống động: búp sen, kỳ lân, rồng, hổ, rái cá; tùng lộc, lộc bình, hoa điểu, hoa cúc dây… cùng nhiều bài thơ ghi công đức của ông và phu nhân.
    Đền thờ có từ khi xây cất xong khu mộ, kiến trúc hiện nay của khu đền thờ là kiến trúc được xây dựng lại trong đợt trùng tu vào năm 1972; với kiến trúc chính điện là ngôi nhà tứ trụ truyền thống Nam bộ cùng hai dãy nhà phía Đông và phía Tây hai bên. Bên trong, tại Chính điện có bàn thờ Hội đồng ở giữa, phía trong là các án thờ Võ Di Nguy và người cháu ruột là Võ Di Thái được phong tước Bình Giang Bá, riêng án thờ Võ Di Nguy có bài vị khắc chữ Thần thếp vàng. Trong chính điện còn treo các bức hoành phi, liễn đối bằng chữ Nho thể hiện công trang của Võ Di Nguy.
    one world, one love, one heart...and lang thang

  24. Có 6 người cảm ơn Rhinovn cho bài viết này:


  25. #28
    Tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    9,544
    Thanks
    9,531
    Thanked 15,836 Times in 3,317 Posts

    Mặc định



    Đền thờ và mộ Võ Di Nguy là một công trình kiến trúc nghệ thuật có liên quan tới nhân vật lịch sử thời chúa Nguyễn. Đây là kiến trúc lăng mộ có tính chất uy nghi, độc đáo vào bậc nhất của các công thần thời Nguyễn ở Nam bộ. Công chúng tới đây có thể nhận thấy nhiều điều thú vị về cuộc sống và xã hội của con người trong quá khứ một thời ở đất Gia Định xưa. Lăng Võ Di Nguy được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 07 tháng 01 năm 1993.
    one world, one love, one heart...and lang thang

  26. Có 7 người cảm ơn Rhinovn cho bài viết này:


  27. #29
    Tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    9,544
    Thanks
    9,531
    Thanked 15,836 Times in 3,317 Posts

    Mặc định

    Những ghi chép đầu tiên về tên gọi Sài Gòn

    Địa danh Sài Gòn trên 300 năm và từng được dùng để chỉ một khu vực với diện tích khoảng 1 km² (Chợ Sài Gòn) có đông người Tàu (người Trung Quốc) sinh sống trong thế kỷ thứ 18. Địa bàn đó gần tương ứng với khu Chợ Lớn ngày nay.
    Năm 1747, theo danh mục các họ đạo trong Launay, Histoire de la Mission Cochinchine, có ghi chép "Rai Gon Thong" (Sài Gòn Thượng) và "Rai Gon Hạ" (Sài Gòn Hạ).
    Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ "Lũy Sài Gòn" (theo Hán Nho viết là "Sài Côn"). Đây là lần đầu tiên chữ "Sài Gòn" xuất hiện trong tài liệu Việt Nam. Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán "Côn" được dùng thế cho "Gòn". Nếu đọc theo Nôm là "Gòn", còn không biết đó là Nôm mà đọc theo chữ Hán thì là "Côn".
    Sau đó danh xưng Sài Gòn được dùng để chỉ các khu vực nằm trong lũy Lão Cầm (năm 1700), lũy Hoa Phong (năm 1731) và lũy Bán Bích (năm 1772), chỉ với diện tích 5 km².
    Ngày 11 tháng 4 năm 1861, sau khi chiếm được thành Gia Định, Phó Đô đốc Léonard Charner ra nghị định xác định địa giới thành phố Sài Gòn (tiếng Pháp: Ville de Saigon) bao gồm cả vùng Sài Gòn và Bến Nghé. Đến ngày 3 tháng 10 năm 1865, quyền thống đốc Nam Kỳ, chuẩn đô đốc Pierre Roze đã ký nghị định quy định lại diện tích của thành phố Sài Gòn chỉ còn 3km2 tại khu Bến Nghé cũ, đồng thời cũng quy định thành phố Chợ Lớn (tiếng Pháp: Ville de Cholon) tại khu vực Sài Gòn cũ. Từ đó tên gọi Sài Gòn chính thức dùng để chỉ vùng đất Bến Nghé, và tên Chợ Lớn để chỉ vùng Sài Gòn cũ. Sau năm 1956, tên gọi Sài Gòn được dùng chung để chỉ cả 2 vùng đất này.
    one world, one love, one heart...and lang thang

  28. Có 5 người cảm ơn Rhinovn cho bài viết này:


  29. #30
    Tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    9,544
    Thanks
    9,531
    Thanked 15,836 Times in 3,317 Posts

    Mặc định

    Các giả thuyết về nguồn gốc tên gọi Sài Gòn

    Đề Ngạn
    Đây là thuyết được đưa ra bởi 2 người Pháp là Aubaret và Francis Garnier. Theo Aubaret, Histoire et description de la Basse-Cochinchine, và Garnier, Cholen, thì năm 1778 người Hoa ở Cù lao Phố (Biên Hòa) vì giúp đỡ nhà Nguyễn nên bị quân nhà Tây Sơn tàn sát phải rút lui theo con sông Tân Bình (Bến Nghé), chọn vùng đất ở giữa đường Mỹ Tho đi Cù lao Phố mà xây dựng tân sở, ngày sau thành phố Chợ Lớn. Năm 1782 họ lại bị quân nhà Tây Sơn tàn sát một lần nữa. Ít lâu sau họ xây dựng lại, đắp đê cao nên đặt tên chỗ mới là "Tai-Ngon", hoặc "Tin-Gan", phát âm theo giọng Quảng Đông là "Thầy Ngồn" hay "Thì Ngòn", đọc theo âm Hán-Việt là "Đề Ngạn" (堤岸). Họ dùng danh từ "Tây Cống" hoặc "Xây-cóon", "Xi-cóon" để ám chỉ vùng người Việt ở tức chợ Bến Thành ngày nay.
    Thuyết này được hai học giả là Vương Hồng Sển và Thái Văn Kiểm đồng ý. Quả thật, trên phương diện ngữ âm, thì "Thầy Ngòn", "Xi Coón" rất giống "Sài Gòn". Tuy nhiên, giả thuyết này về sau bị chứng minh tính bất hợp lý khi phát hiện tài liệu ghi lại tên gọi Sài Gòn đã được sử dụng từ trước 1778.
    Hiện tại, Đề Ngạn (堤岸) vẫn được dùng trong tiếng Hoa để chỉ khu vực Chợ Lớn.
    one world, one love, one heart...and lang thang

  30. Có 7 người cảm ơn Rhinovn cho bài viết này:


+ Trả lời bài viết